Friday, July 31, 2020

On July 31, 2020 by Phương Quế Chi   No comments
Với trí thông minh bẩm sinh, trái tim nhân hậu và lòng quả cảm, Nguyễn Huy Hiệu từ một người lính bình thường đã trưởng thành trong chiến đấu, trở thành một trong những vị tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Trải qua 67 trận đánh, nhiều lần vào sinh ra tử, ông là thương binh hạng 3/4. Một sự trùng lặp đầy ý nghĩa, dịp kỷ niệm 63 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2010) cũng chính là kỷ niệm sinh nhật lần thứ 63 của Thượng tướng, Tiến sĩ Nguyễn Huy Hiệu, Thứ trưởng thường trực Bộ Quốc phòng, ĐS&PL xin trân trọng giới thiệu những kỷ niệm cảm động qua hồi ức của ông.

Chiếc khăn có "lý lịch" đặc biệt trong vô vàn những chiếc khăn được sinh ra trên trái đất, hiện đang được Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu lưu giữ rất cẩn thận. Đối với ông, nó là một kỷ vật vô giá, luôn nhắc nhở ông nhớ đến các đồng đội đã nằm lại chiến trường...

Từ tấm vải dù chiến lợi phẩm...

Sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, đợt 1, quân Mĩ - Nguỵ ở các căn cứ Khe Sanh, Tà Cơn, Sa Mưu trên trục đường 9 bị quân giải phóng vây ép, cắt đứt các tuyến đường bộ. Không thể tiếp tế lương thực, thực phẩm cho các căn cứ bằng xe cơ giới, chúng buộc phải dùng máy bay để thả dù hàng xuống. Quân giải phóng và quân Mĩ - Nguỵ trú quân ở thế "cài răng lược", nghĩa là sống xen kẽ với nhau. Mỗi lần máy bay địch tới thả hàng xuống tiếp tế, quân ta lại dùng hoả lực bắn dữ dội, làm cho các kiện hàng rơi không trúng căn cứ của quân Mĩ - Nguỵ. Có những thùng bị trúng đạn vỡ ra, hàng rơi vãi tứ tung, quân ta trinh sát ghi nhớ những chỗ có hàng rơi, chờ đêm xuống đến lấy. Mặt trận rất cần những kiện hàng như thế để dự trữ nuôi quân đánh trận dài ngày.




Những chiếc dù thả theo những kiện hàng mang nhiều màu sắc khác nhau, nhưng những người lính chiến trận thường thích giữ lại chiếc dù hoa màu xanh lá cây vì loại vải dù này rất bền và có nhiều công dụng. Trước hết là dùng để nguỵ trang, che mắt địch, không có loại vải dù nào lại trông giống lá cây như loại vải dù hoa này. Còn khi vào mùa mưa, các chiến sĩ sẽ dùng mảnh dù đó để thay khăn, quàng cổ cho đỡ lạnh. Đêm nằm ngủ lại lấy tấm dù quấn kín người để tránh muỗi, vắt dưới hầm. Khi bị thương mà thiếu bông băng thì dùng thứ khăn dù này để ga - rô vết thương cũng rất hữu hiệu, nếu khăn bị dính máu chỉ giặt qua là sạch và rất nhanh khô. Còn khi địch thả hơi cay (chất CS), chỉ cần thấm nước một góc khăn, bịt lấy mũi thì sẽ được an toàn. Đặc biệt, khi người lính hy sinh, đồng đội sẽ dùng chính chiếc khăn dù đó để khâm liệm, chôn dưới đất hàng chục năm vẫn chưa mục. Vì vậy, đối với những người lính ở chiến trường, chiếc khăn bằng dù hoa thật vô cùng quý giá, họ thường dùng chỉ ni -lông màu thêu tên mình, quê quán, tên đơn vị theo ký hiệu trong chiến tranh vào khăn để nếu hy sinh thì sau này đồng đội và người thân đi tìm không bị nhầm lẫn với những liệt sĩ khác.

Mùa xuân năm 1968, Nguyễn Huy Hiệu mới vừa tròn 21 tuổi nhưng anh đã trở thành một đại đội trưởng dày dạn trận mạc. Trong một đêm đi thu chiến lợi phẩm, đơn vị của anh đã tìm được một chiếc dù hoa màu xanh lá cây. Chiếc dù rất rộng, gồm 18 múi. Đại đội trưởng Nguyễn Huy Hiệu cho các chiến sĩ xẻ chiếc dù ra làm 18 múi riêng rẽ, chia cho 17 người và anh dùng múi thứ 18. Những người lính khi có mảnh vải dù quý đều khéo léo thêu tên, phiên hiệu đơn vị và địa chỉ quê quán của mình. Đơn vị của anh thống nhất, mọi người đều thêu 4 chữ "Đường 9 - Quyết Thắng".

Riêng tấm khăn của Đại đội trưởng Nguyễn Huy Hiệu được một người lính rất khéo tay tên là Thuấn, quê ở Nghệ An thêu giúp. Tuy nhiên, Thuấn chỉ thêu được bốn chữ "Đường 9 - Quyết Thắng", còn những thông tin khác như tên tuổi, địa chỉ, mặc dù anh Hiệu đã dùng bút chì bi lấy được của Mỹ viết lên đó, nhưng Thuấn chưa kịp thêu thì một trận đánh ác liệt đã diễn ra... Và, anh Thuấn đã hy sinh.

... trở thành vật bất ly thân

Đối với Nguyễn Huy Hiệu, chiếc khăn dù hoa ngày ấy là một kỷ vật vô giá, nó đã theo anh vào sinh ra tử ở những chiến dịch lớn sau này như chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971, chiến dịch Quảng Trị năm 1972, chiến dịch Hồ Chí Minh 1975. ông nhớ rất rõ: "Có lần, tại chiến dịch Quảng Trị, chiếc khăn vắt ở cửa hầm, pháo hạm từ ngoài biển bắn vào, đạn cối từ căn cứ địch gần đó bắn sang, bom bi từ máy bay thả xuống làm chiếc khăn thủng 7 chỗ. Nhưng kỳ lạ thay, khi ấy tôi đang ở trong hầm mà không bị vết thương nào. Trong một trận đánh khác tôi bị thương, do tình thế cấp bách, chính chiếc khăn đã thay cho bông băng, băng bó vết thương cho tôi. Trong suốt cuộc đời chinh chiến của tôi, chiếc khăn dù luôn là kỷ vật mà tôi mang theo bên mình, đó là những đêm hành quân trong mịt mùng khói lửa, những ngày ẩn sâu vào lòng đất mẹ để che mắt quân thù, những giờ phút lặng phắc, nín thở chờ giặc tới tưởng như trái tim cùng thời gian ngưng lại, những niềm vui ngất trời khi lá cờ chiến thắng lồng lộng tung bay trên căn cứ địch, và cả những giọt nước mắt nghẹn ngào, đau thắt khi lặng lẽ tiễn đưa đồng đội về nơi an nghỉ...".

Cơ duyên với con số 7

Sinh ra trong một gia đình nho học trên quê hương Hải Hậu, Nam Định, tuổi thơ của tướng Hiệu trôi qua trước chiến tranh phá hoại của Mỹ. ông sinh ngày 27 tháng 7 năm 1947, đúng vào ngày kỷ niệm Thương binh - Liệt sĩ. ông đã bị thương không dưới 3 lần khi tham gia chiến đấu. Trong những giây phút thư thái hiếm hoi của mình, tướng Hiệu thường chiêm nghiệm về con số 7 gắn với cuộc đời mình. ông bảo: "Hình như mình rất có duyên với con số 7". Vợ ông, Thầy thuốc ưu tú Lại Thị Xuân sinh vào ngày 17 tháng 7, kém ông 2 tuổi...

Và cho đến tận bây giờ, tướng Hiệu vẫn không thể quên một con số 7 nữa đã gắn liền với chiếc khăn vải dù hoa năm xưa. ông xúc động nhớ về kỷ niệm ấy: "Trong 18 người được chia 18 múi dù ngày ấy, tính đến lúc kết thúc chiến tranh, thì 17 người đã anh dũng hy sinh, chỉ còn sống duy nhất một người - đó là tôi, và miếng dù tôi đang giữ chính là miếng dù duy nhất còn lại trong số 18 miếng dù năm xưa. Với tôi, kỷ vật đó thật vô cùng thiêng liêng, luôn nhắc tôi nhớ về những đồng đội thân yêu đã anh dũng ngã xuống... Nhờ họ, tôi mới có được vinh quang ngày hôm nay!"

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu kể rằng: "Thời ấy, người chỉ huy thường có 3 thứ rất thiết yếu ở bên cạnh, đó là một cái túi mìn Clây - mo đeo bên hông trái, một chiếc đài Sony (hoặc Xtanda) đeo bên hông phải, một chiếc khăn dù màu xanh lá cây quàng trên vai, phủ xuống lưng. Nếu có dịp ra Bắc, ghé về thăm quê thì ba vật bất ly thân ấy sẽ làm cho các con tự hào hơn về người cha của mình...".